NHỮNG NHÂN VẬT ĐÃ TỪNG VU CÁO TRẦN NGUYÊN HÃN TRONG LỊCH SỬ | Dòng chảy thông tin | Cổng thông tin dòng họ Trần Nguyên Hãn
Dòng chảy thông tin
NHỮNG NHÂN VẬT ĐÃ TỪNG VU CÁO TRẦN NGUYÊN HÃN TRONG LỊCH SỬ
Tác giả Trần Phước Bình, hậu duệ dòng Trần Pháp Độ, hiện ông sinh sống tại Duy Xuyên Quảng Nam. Ông đã dành nhiều thời gian tìm hiểu các thư tịch sử phả trong việc kết nối dòng họ, khảo cứu các văn bia, tra cứu các tài liệu cổ như Đại Việt sử kí toàn thư cũng như các tác phẩm của các học giả qua nhiều triều đại. Bài viết của ông dưới đây cũng đã được nghiên cứu suốt thời gian dài, để cung cấp cho chúng ta hiểu rõ thêm một giai đoạn thăng trầm của Đức tổ Trần Nguyên Hãn.

 

Trần Phước Bình

ĐVSKTT, Ngô Sĩ Liên viết về Trần Nguyên Hãn từ nguồn thực lục như sau: “Giáp Dần, Thiệu Bình năm thứ 1 (1434) tháng 2, … Đại Tư đồ Lê Sát cho là Trình Hoành Bá trước đây bị tội, nhưng có tài đáng tiếc, sai Thiếu bảo Lê Quốc Hưng biên vào sổ các quan cũ được hưởng ân xá, khi có chiếu chỉ, sắc lệnh cho được chực hầu cùng với Hành khiển của bản đạo, có ý định dùng lại. Ngôn quan Nguyễn Thiên Tích và Bùi Cầm Hồ tâu rằng: “Tiên đế đã có lệnh là bọn Lê Quốc Khí, Trình Hoành Bá, Lê Đức Dư tuy có tài, nhưng không được dùng lại nữa. Bề tôi có kẻ nào mưu việc phản nghịch cần phải tố cáo cũng không cho chúng được tố giác. Nếu dùng lại thì trái với lệnh của Tiên đế (Lê Thái Tổ). Vả lại, những kẻ như bọn Hoành Bá thì còn ai dùng nữa”.

Trước kia, Thái Tổ khi về già có nhiều bệnh, lại thêm Quận Vương (Tư Tề) ngông cuồng, bậy bạ, vua (Nguyên Long) thì còn trẻ thơ, mà Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đều có công lao giúp nước, rất được người đương thời trọng vọng. Nguyên Hãn lại là con cháu nhà Trần và Văn Xảo cũng là người kinh lộ, lo rằng sau này họ có chí khác, nên bên ngoài thì đối xử theo lễ tiết hậu, nhưng trong lòng lại rất ngờ vực hai người.

Bọn Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoành Bá, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư đón biết ý vua, dâng sớ mật, khuyên Thái Tổ quyết ý giết đi. Nếu có ai không vui, bọn Quốc Khí liền chỉ vào họ mà bảo họ là bè đảng của hai nhà ấy, nên rất nhiều người bị xử tử và đi đày. Các quan đều sợ miệng bọn chúng không dám nói gì. Nhưng Thái Tổ biết rất rõ bọn Quốc Khí đều là bọn tiểu nhân xảo quyệt, trong bụng vẫn ghét chúng. Sau này bọn chúng đều có tội, lần lượt bị đuổi đi, song lại lo chúng được dùng lại cho nên nói thế để ngăn ngừa”.

Ngô Sĩ Liên viết rất mạch lạc, có đầu có đuôi và nêu rõ danh tính những kẻ vu oan giá họa cho Trần Nguyên Hãn, gồm Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoành Bá, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư.

Cũng theo Ngô Sĩ Liên thì: Ngày mồng 8/3/1428, Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc. Lấy Thừa chỉ Nguyễn Trãi tước Quan Phục hầu; Tư đồ Trần Hãn chức Tả tướng quốc; Cơ mật đại sứ Phạm Văn Xảo chức Thái bảo, đều được ban quốc tính. Ngày mồng 5/04/1428, Lê Lợi lên ngôi ở Đông Kinh, đại xá, đổi niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ 1. Ngày mồng 3/05/1429, ban biển ngạch công thần cho 93 viên: (Lê Văn Xảo (tức Phạm văn Xảo) đứng thứ 3; Nguyễn Trãi thứ 37).

Với 3 thời điểm trên, đặc biệt là sự kiện ngày mồng 8/03/1428, tức trước khi lên ngôi, Lê Lợi đã tổ chức Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc, nhưng chỉ có Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo được xướng tên, còn hàng trăm công thần khác không thấy nêu tên. Điều này chứng tỏ Trần Nguyên Hãn gặp sóng gió từ sau sự kiện này, bởi sự ganh tỵ của những công thần đồng hương với nhà vua, là nguyên nhân khiến Trần Nguyên Hãn xin hưu trí.

Ngô Sĩ Liên từng giữ chức Đô ngự sử đời Lê Nhân Tông (1443 – 1459), rồi Lễ bộ Hữu thị lang kiêm Quốc tử giám tư nghiệp kiêm Sử quan tu soạn đời Lê Thánh Tông. Năm 1479, Lê Thánh Tông sai Sĩ Liên soạn Đại Việt sử ký toàn thư 15 quyển. Lê Thánh Tông lên ngôi vào ngày mồng 6/6/1460, đến tháng 8 (1460), “ra lệnh yết bảng cho những người nguyên là họ Trần phải kiêng húy đổi thành họ Trình”. Cho thấy Lê Thánh Tông rất đố kỵ người nguyên họ Trần. Ngô Sĩ Liên làm sử viết về những chiến công của Trần Nguyên Hãn từ đầu đến cuối khá rõ, trừ ngày tháng năm Nguyên Hãn bị hại và năm Diên Ninh thứ 2 (1455) Nguyên Hãn được vua Nhân Tông minh oan, không thấy ông chép. Chứng tỏ Ngô Sĩ Liên nhà làm sử tài năng và rất bản lĩnh, đã vượt qua tính đố kỵ người nguyên họ Trần của Thánh Tông, và việc minh oan cho Nguyên Hãn năm Diên Ninh bấy giờ Sĩ Liên đang là quan Đô ngự sử. Tựa (Đại Việt thông sử) của Lê Quý Đôn viết: “Đến đời Hồng Đức, Tế tửu Ngô Sĩ Liên chép từ đời Thuận Thiên đến đời Diên Ninh làm Tam triều bản kỷ, kể việc cũng kỹ và có mối giường. Bấy giờ kén chọn sử quan rất cẩn trọng, như sử quan Lê Nghĩa chép thẳng, giữ ngay, có khí tiết như cổ nhân”, ấy là lời khen duy nhất của Quý Đôn dành cho tài năng làm sử của Sĩ Liên.

Liệt truyện Trần Nguyên Hãn (Đại Việt thông sử) do Lê Quý Đôn khảo biên, viết: “… Khi vua (Lê Lợi) ước hòa với Vương Thông, cùng thề ở phía Nam thành Đông Quan. Trong tờ hòa ước có kê tên những người đầu mục cả nước thì Trần Nguyên Hãn thứ nhì liền với tên vua. Đủ thấy vua coi trọng ông như thế nào … Ông xin về hưu. Nhà vua bằng lòng cho, nhưng bảo mỗi năm 2 lần về chầu. Ông về làng làm nhiều nhà cửa, xây bằng gạch hoa, và đóng thuyền chở binh khí. Có người tố cáo ông mưu phản. Vua sai lực sĩ xá nhân bắt về hỏi tội. Thuyền đến bến dưới xã Đông Sơn, ông phẫn uất khấn trời rằng: “Tôi với vua cùng mưu cứu dân. Nay việc nghĩa lớn đã thành, vua lại muốn giết tôi, hoàng thiên có biết xin soi xét cho”. Nói xong bỗng nhiên trời nổi gió lật thuyền, 42 lực sĩ xá nhân và ông đều chết đuối cả. Chỉ có 2 gia đồng của ông trôi vào bờ được thoát chết. Việc ấy tâu lên, vua xuống chiếu tịch thu tất cả vợ con, ruộng đất của cải của ông. Triều Nhân Tông năm Diên Ninh thứ 2 (1455), nhân đại xá, nhà vua thương ông vô tội, ban chiếu trả lại ruộng nương của cải, để biểu dương người có công lao cũ …”.

Công thần thời Lê Sơ được định công ban thưởng cả trước và sau lên đến hàng mấy trăm vị, nay chỉ còn 19 liệt truyện công thần do Lê Quý Đôn biên soạn, trong đó có liệt truyện Trần Nguyên Hãn. Sự đóng góp của Lê Quý Đôn về sử học thời Lê Sơ là rất lớn, song do không gian lịch sử đã hơn 300 năm trước, nên những ghi chép của ông khó tránh khỏi những hạn chế và sai sót. Với Trần Nguyên Hãn ông viết: “Ông về làng làm nhiều nhà cửa, xây bằng gạch hoa, và đóng thuyền chở binh khí. Có người tố cáo ông mưu phản”. Trước hết, “việc có người vu cáo Nguyên Hãn mưu làm phản” là có thật gồm bọn Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoành Bá, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư và được Ngô Sĩ Liên chép nơi Toàn thư, và chính Quý Đôn cũng đã trích dẫn lại nơi liệt truyện Phạm Văn Xảo. Thế thì việc nói “Nguyên Hãn về làng làm nhiều nhà cửa, xây bằng gạch hoa, và đóng thuyền chở binh khí”, là nội dung vu cáo của nhóm Đinh Bang Bản. Nói Nguyên Hãn làm nhiều nhà cửa điều này phụ thuộc vào khả năng tài chính (bỗng lộc) do vua ban thưởng năm ông trí sĩ, và số nhà ấy cần đủ cho các gia nhân của ông sinh cư, trong đó chắc phải có ngôi Từ đường phụng thờ tổ tiên; còn nói “xây nhà bằng gạch hoa” là điều xưa nay không thể có. Nguyên Hãn là danh tướng không thể không hiểu binh pháp, thì lẽ nào lại công khai giữa thanh thiên bạch nhật và nơi huyện Lập Thạch nơi sinh ra ông cách kinh thành Thăng Long không xa, ông lại đóng thuyền chở binh khí nhằm chống lại triều đình và binh khí đó chứa ở đâu không thấy nói ? Trong khi binh hùng tướng mạnh đểu ở trong tay vua Lê Lợi, và 2 người anh em thân cận của ông là Nguyễn Trãi và Phạm Văn Xảo đang phục vụ cho triều đình. Nếu ông trí sĩ vào sau ngày Lê Lợi lên ngôi (5/04/1428), đến tháng 2/1429 ông bị hãm hại chỉ có 8 tháng, liệu có đủ thời gian để làm ra của cải và xây dựng nhà cửa nguy nga ? Hơn nữa, nếu triều đình biết ông mưu làm phản, tức Nguyên Hãn có binh lực và binh khí, thì sao nhà vua chỉ sai có 42 lực sĩ xá nhân đi bắt ông về để hỏi tội ? Với những bất hợp lý đó rất có thể do Quý Đôn thiếu sự thống kê, so sánh và cả lỗi hành văn dẫn đến trước sau bất nhất, khiến người đọc hiểu sai về truyện Trần Nguyên Hãn.

Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú (1782-1840), chép lại truyện Trần Nguyên Hãn của Lê Quý Đôn, đoạn từ “Năm đầu Thuận Thiên (1428), vua đại hội các quan văn võ …. Đời nhuận Mạc truy tặng Tả tướng quốc Trung liệt đại vương, nay hương khói không dứt”. Huy Chú đã cắt bỏ cụm từ “xây bằng gạch hoa” vì nó phi thực tế. Vậy mà vị Giáo sư sử gia Trần Quốc Vượng (1934-2005) gần đây lại suy diễn thêm thắt, lên mặt dạy đời và kết luận về Trần Nguyên Hãn với những ngôn từ xảo trá: “Phạm Lãi … đi biệt, đổi tên họ, dẫn theo người đẹp Tây Thi … bỏ hoàn toàn ham muốn quyền lực. Nên vua dù có biết (mà biết thực, nên mới cho ghi vào sử) cũng nghĩ ông này bây giờ … không dòm ngó gì tới ngôi báu. Đàng này Nguyên Hãn lại “dại dột” làm nhiều nhà cửa, xây bằng gạch hoa (a, có vẻ như xây biệt đô, biệt cung, thuần phục và tậu voi, tậu trâu từng đàn đi lại rầm rập, lại “đóng thuyền chở binh khí” nữa, ra cái dáng “sứ quân”, “nghênh ngang một cõi”. Thế thì chưa biết “động cơ chủ quan” như thế nào chứ như thế thì bịt sao nổi miệng thế xầm xì, phao tin đồn (cơ chế của tin đồn là mối quan tâm tới một sự kiện nhưng thiếu thông tin về sự kiện đó). Người ta vu cho ông làm phản và ông bị giết hại (hay bị “bức tử”, “tự sát” hay là “chết đuối” thì cũng vậy thôi) là phải”.

Các sử gia Trung Quốc xác định Phạm Lãi bỏ Việt vương - Câu Tiễn, ra đi cùng với vợ con, không hề đem theo người đẹp Tây Thi. Thứ đến, việc người vu oan giá họa Trần Nguyên Hãn chính sử nhà Lê có chép rất rõ, thế mà Trần Quốc Vượng nói đó là “tin đồn” và còn giải thích về cơ chế của tin đồn ? Ông mô tả Nguyên Hãn “dại dột” với hàng hoạt những hành vi và đi đến kết luận Trần Nguyên Hãn bị giết là phải, mà không trích dẫn một cứ liệu lịch sử nào ? Trần Quốc Vượng một vị Giáo sư sử học thời “Phương pháp luận khoa học lịch sử”, mà viết những điều suy diễn, bịa đặt, rồi gán ghép cho Trần Nguyên Hãn, thì Quốc Vượng chính là kẻ tội đồ của dân tộc, cố tình bôi đen lịch sử và tất nhiên ông ta đã tự tát vào mặt mình và tự nhận mình thuộc nhóm Đinh Bang Bản thời Lê Thái Tổ vậy.

Lê Quý Đôn nhà biên soạn sách nhiều nhất lịch sử kim cổ, nên không tránh khỏi những sai sót. Đại Việt thông sử, quyển Đế kỷ đệ nhị, ông viết: “Năm 1430 tháng 11, vì thổ tù ở châu Thạch Lâm, Thái Nguyên là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái ở châu Thượng Lang, liên kết với Trần Hãn làm phản, vua bèn hạ chiếu thân chinh, và tuyển bộ binh ở Bồ Đề … Giết Thái úy Phạm Văn Xảo. Tháng 2/1431, đánh được châu Thạch Lâm, Bế Khắc Thiệu thua chạy, rồi chết; bắt được Nông Đắc Thái, bèn kéo quân về”, hay tại năm 1432, viết: “Trẫm xét, kẻ loạn thần, tặc tử, thì ai ai cũng muốn giết chết. Năm ngoái, thằng Khắc Thiệu ở Thái Nguyên mưu làm phản, đích do thằng Hãn âm mưu, năm nay Cát Hãn nổi loạn là do âm mưu của Xảo. Mầm mống họa loạn không thể không triệt cho hết…”. Nếu đến thời Lê Quý Đôn mà còn tìm thấy những tư liệu này thì nó cũng không còn giá trị, bởi sử thần Ngô Sĩ Liên trước đó trên 300 năm đã chép trong Toàn thư: “Năm 1430 tháng 11, vua đi đánh bọn nghịch tặc ở châu Thạch Lâm, trấn Thái Nguyên là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái. Bấy giờ Khắc Thiệu và Đắc Thái tranh nhau tự lập, nên phải đi đánh … Năm 1431 tháng 2, vua bắt được Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái đem về. Tháng 3 về đến Kinh sư”. Và chính Lê Quý Đôn đã viết trong truyện Trần Nguyên Hãn: “Triều Nhân Tông năm Diên Ninh thứ 2 (1455), nhân đại xá, nhà vua thương ông vô tội, ban chiếu trả lại ruộng nương của cải, để biểu dương người có công lao cũ”, và truyện Phạm Văn Xảo: “Triều Nhân Tông năm Diên Ninh thứ 1 (1454), đại xá, trả lại điền sản cho con cháu ông. Năm Hồng Đức 15 (1484) đời vua Thánh Tông truy phong là Thái bảo Thắng quận công”.

Rất rõ là Lê Quý Đôn đã tiền hậu bất nhất khi viết về Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, và Lê Quý Đôn đã không nhận ra nguyên nhân Trần Nguyên Hãn xin hưu quan xuất phát từ sau sự kiện “Ngày mồng 8/3/1428, Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc”, mà chỉ có Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo được xướng danh và ban thưởng, số công thần còn lại không thấy ai có tên trong đợt này. Chứng tỏ nội bộ hàng mấy trăm công thần không thuộc người kinh lộ (Thăng Long) và là đồng hương với vua, họ đã tập hợp lại và đấu tranh nhằm loại trừ Trần Nguyên Hãn ra khỏi danh sách công thần bậc trên, bởi ông thuộc dòng dõi tông thất nhà Trần. Lê Quý Đôn không rõ đã căn cứ vào đâu để nói về Trần Nguyên Hãn rằng: “Năm Mậu Thân, Thuận Thiên thứ 1 (1428), vua đại hội bá quan văn võ, phong ông làm Tả tướng quốc … Ông nói riêng với người thân: “Nhà vua có tướng như Việt vương, không thể cùng sung sướng được”. Ông xin về hưu …”. Nếu, Nguyên Hãn nói được câu này, ông sẽ hành xử theo gương Phạm Lãi, tìm nơi sống ẩn và sẽ không có việc xây nhà cửa hay từ đường. Do đó, câu nói này rất có thể của người đời nói Nguyên Hãn sao không làm theo gương Phạm Lãi, để phải chết oan, và Quý Đôn đã ngộ nhận đem ghi vào liệt truyện ? Đây là tồn nghi rất cần các nhà sử học chân chính ngày nay làm sáng tỏ.

Liên kết website
Tìm kiếm
Hỗ trợ trực tuyến
Mr. Trung : 0913 985 589
Thông báo dòng họ
Video
   LỄ THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG LÂM THỜI HỌ TRẦN VIỆT NAM
Thống kê truy cập
Online: 165
Tổng truy cập: 976960
Nội san dòng họ
  • QUÝ HƯƠNG TỨC MẶC HỌ TRẦN VÀ NGUYÊN TỔ HOÀNG ĐẾ TRIỀU TRẦN RỪNG THẦN Nội san dòng họ Nội san dòng họ